Tóm tắt: Sắp xếp thôn, tổ dân phố là một nội dung của quá trình đổi mới, tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả quản trị cơ sở. Tuy nhiên, một số đối tượng đã lợi dụng những khó khăn phát sinh để xuyên tạc rằng chủ trương này làm mất dân chủ, khiến chính quyền xa dân, cắt giảm quyền lợi của người hoạt động không chuyên trách hoặc phá vỡ bản sắc cộng đồng. Bài viết nhận diện các quan điểm sai trái chủ yếu; làm rõ cơ sở khoa học, chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc sắp xếp; đồng thời đề xuất luận cứ phản bác và giải pháp tạo đồng thuận xã hội, bảo đảm quá trình thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch và phù hợp đặc điểm từng địa bàn.
Từ khóa: Thôn, tổ dân phố; sắp xếp; dân chủ cơ sở; chính quyền địa phương hai cấp; phản bác quan điểm sai trái; quản trị cơ sở.
1. Đặt vấn đề
Thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư, có vai trò trực tiếp trong tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; giữ gìn an ninh, trật tự; hòa giải; xây dựng đời sống văn hóa và kết nối chính quyền cấp xã với người dân. Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, đô thị hóa, biến động dân cư và chuyển đổi số, mạng lưới thôn, tổ dân phố cần được rà soát, tổ chức lại theo quy mô hợp lý để nâng cao hiệu quả tự quản và hỗ trợ quản trị cơ sở.
Chủ trương này được đặt trong tiến trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2017, Kết luận số 127-KL/TW và Nghị quyết số 60-NQ/TW năm 2025; đồng thời được cụ thể hóa bằng Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Nghị định số 185/2026/NĐ-CP và Chỉ thị số 21/CT-TTg năm 2026. Tuy nhiên, việc sắp xếp tác động đến tên gọi địa bàn, thói quen sinh hoạt, nhân sự và thiết chế cộng đồng nên dễ bị lợi dụng để gây hoài nghi. Do đó, nhận diện và phản bác quan điểm sai trái phải gắn với khắc phục hạn chế trong tổ chức thực hiện, lấy hiệu quả phục vụ và sự đồng thuận của Nhân dân làm căn cứ thuyết phục.
2. Nhận diện quan điểm sai trái về sắp xếp thôn, tổ dân phố
Các quan điểm sai trái về sắp xếp thôn, tổ dân phố thường không phủ nhận trực diện yêu cầu đổi mới quản trị cơ sở mà khai thác tâm lý lo ngại của người dân và đội ngũ hoạt động ở địa bàn dân cư. Trước hết, có luận điệu cho rằng sắp xếp là “xóa bỏ dân chủ cơ sở”, bởi quy mô cộng đồng lớn hơn sẽ làm người dân ít được bàn bạc, quyết định và giám sát. Đây là sự đánh tráo giữa quy mô tổ chức với cơ chế thực hiện dân chủ. Quyền được biết, được bàn, được quyết định, được kiểm tra, giám sát và thụ hưởng không phụ thuộc một cách cơ học vào số hộ trong một tổ dân phố, mà phụ thuộc vào việc công khai thông tin, lấy ý kiến, tiếp thu và giải trình đúng quy định.
Một luận điệu khác cho rằng sắp xếp sẽ làm “chính quyền xa dân”, cán bộ không nắm được địa bàn và người dân khó phản ánh kiến nghị. Cách nhìn này tuyệt đối hóa khoảng cách địa lý, đồng thời bỏ qua yêu cầu hiện đại hóa quản trị. Chính quyền gần dân còn được đo bằng chất lượng phục vụ, thời gian xử lý công việc, khả năng tiếp nhận phản ánh, tính minh bạch và hiệu quả phối hợp giữa chính quyền cấp xã với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ hòa giải, tổ công nghệ số cộng đồng và các kênh tương tác trực tiếp, trực tuyến. Nếu tổ chức hợp lý, thôn, tổ dân phố sau sắp xếp có thể huy động nguồn lực tốt hơn và trở thành đầu mối tự quản hiệu quả hơn.
Các đối tượng xấu cũng khai thác tâm tư của Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban Công tác Mặt trận và người tham gia hoạt động ở cơ sở để quy kết rằng việc sắp xếp chỉ nhằm cắt phụ cấp, bỏ rơi người đã cống hiến. Sắp xếp có thể làm thay đổi số lượng chức danh, nhưng không đồng nghĩa phủ nhận vai trò hoặc quyền lợi chính đáng của đội ngũ này. Nghị định số 185/2026/NĐ-CP đã quy định về chức danh, khoán quỹ phụ cấp, bảo hiểm, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ đối với người nghỉ do sắp xếp. Vấn đề cần giám sát là việc thực hiện chính sách có kịp thời, công khai và đúng đối tượng hay không.
Bên cạnh đó là luận điệu cho rằng chủ trương được tiến hành “áp đặt”, “làm vội”, “thiếu cơ sở pháp lý”. Thực tế, việc sắp xếp nằm trong tổng thể đường lối tinh gọn bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và có quy trình, thẩm quyền cụ thể. Tuy vậy, không thể lấy cơ sở pháp lý để biện minh cho cách làm hình thức. Nếu khảo sát chưa kỹ, lấy ý kiến chiếu lệ, giải thích không đầy đủ hoặc chậm giải quyết chế độ chính sách thì những thiếu sót đó phải được thẳng thắn khắc phục. Chính sự dân chủ, minh bạch trong thực hiện mới làm rõ tính đúng đắn của chủ trương.
Một số thông tin còn kích động nỗi lo “xóa tên làng xóm”, “phá vỡ bản sắc cộng đồng” hoặc quy giản mục tiêu sắp xếp thành “giảm chi ngân sách”. Tên gọi, địa danh và không gian sinh hoạt cộng đồng chứa đựng ký ức lịch sử, tình cảm, phong tục, tôn giáo và đặc điểm dân tộc nên phải được xem xét thận trọng. Tuy nhiên, thay đổi ranh giới tổ chức không tất yếu làm mất bản sắc; bản sắc được bảo tồn thông qua con người, thiết chế văn hóa, ký ức địa danh và sự tham gia của cộng đồng. Đồng thời, tiết kiệm ngân sách chỉ là một kết quả có thể có; mục tiêu chủ yếu vẫn là khắc phục đầu mối manh mún, nâng cao chất lượng tự quản, tăng khả năng phối hợp và phục vụ Nhân dân. Các luận điệu trên đều tách một khó khăn cụ thể khỏi tổng thể chính sách, rồi quy chụp thành bản chất của chủ trương.
3. Cơ sở khoa học, chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc sắp xếp thôn, tổ dân phố
3.1. Cơ sở khoa học, chính trị và pháp lý
Về lý luận, thôn, tổ dân phố không phải là cấp hành chính mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư. Đây là không gian để Nhân dân tham gia bàn bạc, giám sát và cùng giải quyết những vấn đề thiết thân. Vì vậy, sắp xếp không làm mất chức năng tự quản, mà tổ chức lại không gian tự quản theo quy mô phù hợp với dân cư, hạ tầng, điều kiện văn hóa - xã hội và phương thức quản trị mới. Theo khoa học tổ chức, hiệu quả của một thiết chế phụ thuộc sự tương thích giữa quy mô, nhiệm vụ, nhân sự, nguồn lực và cách vận hành. Đầu mối quá nhỏ, phân tán có thể gây hình thức, khó lựa chọn nhân sự và huy động nguồn lực; nhưng sắp xếp máy móc, chỉ chú trọng giảm số lượng cũng có thể làm suy giảm sự gắn kết cộng đồng. Do đó, yêu cầu khoa học là hợp lý về quy mô, thuận lợi cho quản lý, tôn trọng đặc thù, dân chủ về quy trình và hiệu quả trong hoạt động.
Về chính trị, Nghị quyết số 18-NQ/TW xác định tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả [1]. Kết luận số 127-KL/TW và Nghị quyết số 60-NQ/TW tiếp tục định hướng sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính và chính quyền địa phương hai cấp [2], [3]. Vì vậy, sắp xếp thôn, tổ dân phố không phải biện pháp cục bộ, mà là khâu hỗ trợ hệ thống chính trị ở cơ sở vận hành đồng bộ trong điều kiện mới.
Về pháp lý, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 nhấn mạnh yêu cầu chính quyền địa phương tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, chuyên nghiệp, hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin [4]. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 là căn cứ để bảo đảm công khai, lấy ý kiến, tiếp thu và giải trình ý kiến Nhân dân [5]. Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ đối với người hoạt động không chuyên trách [6]; Chỉ thị số 21/CT-TTg yêu cầu rà soát, xây dựng phương án, lấy ý kiến Nhân dân và bảo đảm đồng thuận [7]. Hệ thống căn cứ này khẳng định chủ trương có cơ sở, đồng thời đặt ra trách nhiệm tuân thủ nghiêm quy trình dân chủ.
3.2. Cơ sở thực tiễn
Tính đến hết năm 2021, cả nước có 90.508 thôn, tổ dân phố, gồm 69.580 thôn và 20.928 tổ dân phố [8]. Mạng lưới rộng giúp hệ thống chính trị bám sát cơ sở, nhưng quy mô và điều kiện hoạt động giữa các địa bàn không đồng đều. Có nơi số hộ ít, nguồn lực hạn chế, khó tổ chức sinh hoạt và lựa chọn nhân sự; có nơi dân cư tập trung đông, biến động nhanh tại chung cư, khu đô thị, khu công nghiệp hoặc khu nhà trọ, đòi hỏi phương thức quản lý linh hoạt hơn. Đô thị hóa, di cư lao động và chuyển đổi số cũng làm thay đổi cách người dân tương tác với chính quyền, đặt ra yêu cầu thôn, tổ dân phố vừa thực hiện nhiệm vụ truyền thống, vừa hỗ trợ tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và thông tin chính thống.
Khi cấp xã có quy mô, thẩm quyền và khối lượng công việc lớn hơn, mạng lưới tự quản nếu quá phân tán sẽ làm tăng áp lực nắm địa bàn, truyền đạt chính sách và xử lý vấn đề phát sinh. Sắp xếp hợp lý có thể tạo đầu mối phối hợp rõ hơn, nâng chất lượng nhân sự và sử dụng hiệu quả thiết chế cộng đồng. Tuy nhiên, đây là vấn đề nhạy cảm, liên quan tên gọi, địa giới, nhân sự, chi bộ, Ban Công tác Mặt trận và các chi hội đoàn thể. Bởi vậy, hiệu quả chỉ đạt được khi phương án dựa trên khảo sát thực tế, có lộ trình, giải trình thuyết phục, bảo đảm chính sách và tôn trọng đặc điểm cộng đồng.
4. Luận cứ phản bác các quan điểm sai trái về sắp xếp thôn, tổ dân phố
.jpg)
Sắp xếp thôn, tổ dân phố nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, không phải xóa bỏ cộng đồng. Ảnh minh họa
Thứ nhất, sắp xếp là yêu cầu khách quan của đổi mới quản trị cơ sở, không phải thu hẹp dân chủ. Dân chủ được bảo đảm bằng cơ chế công khai, tham gia, quyết định và giám sát của Nhân dân. Một tổ chức có quy mô hợp lý, nhân sự đủ năng lực và phương thức tương tác thuận tiện có thể tạo điều kiện thực hiện dân chủ thực chất hơn một mạng lưới nhiều đầu mối nhưng hoạt động hình thức.
Thứ hai, sắp xếp nhằm làm cho chính quyền gần dân theo phương thức hiệu quả hơn. Khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi phản ánh được tiếp nhận nhanh, thông tin minh bạch, trách nhiệm rõ và công việc được giải quyết kịp thời. Thôn, tổ dân phố sau sắp xếp phải được củng cố để nắm tình hình, hòa giải, vận động, hỗ trợ dịch vụ công và kết nối các nhóm dân cư, chứ không chỉ thay đổi tên gọi hoặc ranh giới.
Thứ ba, tinh gọn không đối lập với bảo tồn bản sắc và bảo đảm quyền lợi. Việc lựa chọn tên gọi cần ưu tiên tính kế thừa, ghi nhận địa danh có giá trị lịch sử, văn hóa và tôn trọng ý kiến cộng đồng. Đối với người hoạt động không chuyên trách, địa phương phải thực hiện đầy đủ chế độ, ghi nhận đóng góp, lựa chọn nhân sự có uy tín và bồi dưỡng kỹ năng quản trị, hòa giải, tuyên truyền, chuyển đổi số. Làm tốt hai nội dung này sẽ triệt tiêu cơ sở tâm lý mà thông tin xuyên tạc thường lợi dụng.
Thứ tư, phản bác phải dựa trên sự thật, pháp luật và kết quả thực tiễn. Không nên chỉ khẳng định chủ trương đúng mà né tránh hạn chế trong tổ chức thực hiện. Cần công khai tiêu chí, phương án, số liệu, chế độ chính sách; tổ chức đối thoại; giải trình ý kiến khác nhau và xử lý biểu hiện áp đặt, hình thức. Hiệu quả phục vụ Nhân dân sau sắp xếp là luận cứ có sức thuyết phục cao nhất.
5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác quan điểm sai trái và tạo đồng thuận
Một là, đổi mới tuyên truyền theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu và gắn với lợi ích cụ thể. Nội dung cần làm rõ thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản, mục tiêu sắp xếp là nâng cao chất lượng hoạt động, không phải xóa bỏ cộng đồng. Cùng với văn bản chính thức, cần sử dụng hội nghị Nhân dân, hệ thống truyền thanh, cổng thông tin, nhóm cộng đồng và bộ câu hỏi - đáp để giải thích những vấn đề như tên gọi, ranh giới, nhân sự, nơi sinh hoạt, quyền tham gia và chế độ chính sách.
Hai là, công khai đầy đủ tiêu chí, phương án và lộ trình. Trước khi lấy ý kiến, người dân phải được cung cấp thông tin về hiện trạng, lý do, phương án dự kiến, tác động và biện pháp xử lý. Kết quả lấy ý kiến cần được tổng hợp trung thực; ý kiến chưa đồng thuận phải được giải trình, không coi việc lấy ý kiến là thủ tục hoàn tất hồ sơ. Đối với địa bàn có đặc thù lịch sử, dân tộc, tôn giáo, địa hình, chung cư hoặc dân cư biến động, cần có tiêu chí và cách tổ chức phù hợp.
Ba là, bảo đảm chính sách và ổn định đội ngũ ở cơ sở. Cần thông báo sớm, chi trả kịp thời, gặp gỡ và ghi nhận những người nghỉ do sắp xếp; lựa chọn người tiếp tục công tác trên cơ sở uy tín, năng lực, sức khỏe và tinh thần trách nhiệm. Đội ngũ sau sắp xếp cần được bồi dưỡng kỹ năng nắm bắt dư luận, hòa giải, tổ chức sinh hoạt cộng đồng, sử dụng nền tảng số và hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công.
Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, người có uy tín, chức sắc tôn giáo, ban quản trị chung cư và tổ hòa giải. Đây là lực lượng gần dân, có khả năng nhận diện sớm tâm tư và giải thích bằng ngôn ngữ phù hợp. Sự tham gia của các chủ thể này giúp quá trình tuyên truyền không mang tính áp đặt, đồng thời tăng khả năng giám sát việc thực hiện phương án.
Năm là, chủ động đấu tranh với thông tin sai trái trên không gian mạng. Cơ quan chức năng cần phát hiện sớm nội dung xuyên tạc, cung cấp thông tin chính thống kịp thời, dùng chứng cứ và ngôn ngữ bình tĩnh, tránh quy chụp. Cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên cần chia sẻ thông tin đã được kiểm chứng; đồng thời phân biệt giữa ý kiến băn khoăn chính đáng của người dân với hành vi cố tình xuyên tạc để có cách trao đổi phù hợp.
Sáu là, theo dõi và đánh giá hiệu quả sau sắp xếp. Các tiêu chí cần tập trung vào mức độ thuận lợi khi người dân phản ánh kiến nghị, tham gia sinh hoạt cộng đồng, tiếp cận thông tin và dịch vụ công; chất lượng hòa giải, an ninh trật tự; khả năng huy động nguồn lực; mức độ hài lòng và đồng thuận. Bất cập phải được điều chỉnh kịp thời, tránh coi việc ban hành quyết định là kết thúc quá trình.
Sắp xếp thôn, tổ dân phố là chủ trương có cơ sở khoa học, chính trị, pháp lý và thực tiễn, phù hợp yêu cầu tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản trị cơ sở. Những quan điểm cho rằng chủ trương này tất yếu làm mất dân chủ, khiến chính quyền xa dân, cắt giảm quyền lợi hoặc phá vỡ bản sắc đều phiến diện, đánh tráo giữa hạn chế có thể phát sinh trong thực hiện với bản chất của chính sách. Tuy nhiên, phản bác chỉ có sức thuyết phục khi việc sắp xếp được tiến hành dân chủ, công khai, nhân văn, bảo đảm chính sách và tạo ra chất lượng phục vụ tốt hơn. Sự tham gia thực chất và mức độ hài lòng của Nhân dân phải là thước đo quan trọng nhất.
ThS. Nguyễn Thanh Tâm
Trường Chính trị thành phố Cần Thơ
Chú thích
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
[2] Bộ Chính trị, Ban Bí thư (2025), Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
[3] Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
[4] Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.
[5] Quốc hội (2022), Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15.
[6] Chính phủ (2026), Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
[7] Thủ tướng Chính phủ (2026), Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 về sắp xếp thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách.
[8] Trang Thông tin điện tử Xây dựng chính sách, pháp luật của Chính phủ: đến hết năm 2021, cả nước có 90.508 thôn, tổ dân phố, gồm 69.580 thôn và 20.928 tổ dân phố.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
3. Bộ Chính trị, Ban Bí thư (2025), Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
4. Chính phủ (2026), Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
5. Quốc hội (2022), Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15.
6. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.
7. Thủ tướng Chính phủ (2026), Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.
8. Trang Thông tin điện tử Xây dựng chính sách, pháp luật (2026), “Sắp xếp thôn, tổ dân phố; hoàn thiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách”.