Ngày 19/8/2026, trong khuôn khổ chương trình làm việc kỳ họp không thường lệ của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Tổ, cho ý kiến về định hướng sửa đổi Luật Đất đai nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp với thực tiễn trong giai đoạn mới.

Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ - Triệu Thị Ngọc Diễm phát biểu góp ý định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024
Tham gia thảo luận, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ, đã có nhiều ý kiến góp ý đối với các định hướng sửa đổi Luật Đất đai. Từ thực tiễn địa phương, đại biểu tập trung phân tích một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện nhằm bảo đảm các quy định của Luật khi được sửa đổi có tính khả thi, đồng bộ và phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai, đặc biệt trong bối cảnh tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Sau đây là toàn văn nội dung phát biểu góp ý của đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm tại phiên thảo luận Tổ.
GÓP Ý DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI - 19/8/2026 (THẢO LUẬN TẠI TỔ)
Triệu Thị Ngọc Diễm, Đoàn ĐBQH TP Cần Thơ
Triệu Thị Ngọc Diễm, Đoàn ĐBQH TP Cần Thơ
Định hướng và Dự thảo Luật đất đai lần này đã thể hiện nhiều đổi mới quan trọng, thông qua 07 chính sách lớn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai.
Với sự đóng góp của hệ thống pháp luật về đất đai cùng những vấn đề xuất phát từ thực tiễn, tôi xin góp ý một số vấn đề cụ thể:
1. Về “Trình tự, thủ tục thu hồi đất” (Điều 39)
Tôi thống nhất với chủ trương tinh gọn Luật, với 06 nhóm công việc trong toàn bộ trình tự, thủ tục thu hồi đất, không quy định quá nhiều thủ tục kỹ thuật.
Kinh nghiệm trong việc thực hiện các Luật Đất đai trước đây đã cho thấy các nội dung dễ phát sinh tranh chấp tập trung vào thông báo thu hồi đất, ghi nhận hiện trạng, kiểm đếm, lấy ý kiến phương án, phản hồi ý kiến, chi trả tiền và cưỡng chế.
Nếu Luật chỉ xác định tên các bước, trong khi toàn bộ thời hạn, quyền tham gia, trách nhiệm giải trình và điều kiện cưỡng chế không được quy định đồng thời thì tính ổn định của chính sách sẽ giảm. Chính Báo cáo tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2024 cũng ghi nhận giá trị của các quy định về trách nhiệm, đối thoại, công khai, minh bạch trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
1. Về “Trình tự, thủ tục thu hồi đất” (Điều 39)
Tôi thống nhất với chủ trương tinh gọn Luật, với 06 nhóm công việc trong toàn bộ trình tự, thủ tục thu hồi đất, không quy định quá nhiều thủ tục kỹ thuật.
Kinh nghiệm trong việc thực hiện các Luật Đất đai trước đây đã cho thấy các nội dung dễ phát sinh tranh chấp tập trung vào thông báo thu hồi đất, ghi nhận hiện trạng, kiểm đếm, lấy ý kiến phương án, phản hồi ý kiến, chi trả tiền và cưỡng chế.
Nếu Luật chỉ xác định tên các bước, trong khi toàn bộ thời hạn, quyền tham gia, trách nhiệm giải trình và điều kiện cưỡng chế không được quy định đồng thời thì tính ổn định của chính sách sẽ giảm. Chính Báo cáo tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2024 cũng ghi nhận giá trị của các quy định về trách nhiệm, đối thoại, công khai, minh bạch trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Do đó tôi xin kiến nghị tại Điều 39, cần quy định tối thiểu ngay trong Luật 05 nội dung sau:
- Thứ nhất, nội dung cơ bản và thời hạn thông báo thu hồi đất.
- Thứ hai, trách nhiệm ghi nhận hiện trạng sử dụng đất và tài sản tại thời điểm thông báo thu hồi đất để ngăn ngừa việc tạo lập tài sản sau thông báo.
- Thứ ba, nguyên tắc công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; quyền góp ý của người bị ảnh hưởng; trách nhiệm tổng hợp, giải trình và tổ chức đối thoại đối với ý kiến chưa thống nhất.
- Thứ tư, nguyên tắc và thời hạn chi trả bồi thường, hỗ trợ.
- Thứ năm, điều kiện cơ bản để thực hiện kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế kiểm đếm và cưỡng chế thu hồi đất.
Riêng các nội dung mang tính kỹ thuật có thể giao Chính phủ quy định chi tiết, nhưng quyền của người dân và trách nhiệm cốt lõi của cơ quan nhà nước nên được thể hiện trong Luật.
2. Về “Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” (Điều 42)
Tại khoản 8 Điều 42 có quy định người có đất thu hồi thực hiện chuyển quyền sử dụng đất trong thời gian có hiệu lực của thông báo thu hồi đất.
Đối chiếu với tình hình thực tế tại các dự án trong thời gian qua, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi đã có thông báo thu hồi sẽ làm phức tạp hồ sơ pháp lý; gây khó khăn trong việc xác định, điều chỉnh thông tin, dữ liệu của chủ thể được bồi thường, hỗ trợ; cơ quan chức năng mất thêm thời gian để rà soát, xác định lại các thông tin có liên quan của chủ sở hữu mới. Đơn vị thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải cập nhật, điều chỉnh, bổ sung danh sách, nội dung liên quan đến các chủ thể ảnh hưởng dự án cũng như cơ quan có thẩm quyền phải ban hành văn bản điều chỉnh các quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; … dẫn đến thời gian thực hiện các dự án sẽ bị kéo dài, làm chậm tiến độ thực hiện dự án (nhất là các dự án trọng điểm, các dự án có nhu cầu đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng).
Do đó, để góp phần đảm bảo tiến độ, tránh phát sinh thêm các thủ tục thu hồi đất và giải phóng mặt bằng tại các dự án, kiến nghị khi thông báo thu hồi đất còn hiệu lực thì người dân không được thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
3. Về “Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các trường hợp đặc biệt” (Tại Điều 43)
- Tại khoản 1, Điều 43, Trong thực tiễn, các trường hợp đặc biệt phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng không chỉ là các dự án đầu tư do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư, mà còn có các trường hợp sạt lở, sụt lún, cần khẩn trương di dời dân cư khỏi vùng nguy hiểm, kèm theo đó là giải pháp phải bố trí tái định cư cho người dân.
Kiến nghị: Bổ sung thêm trường hợp di dời cộng đồng dân cư do sạt lở, sụt lún, ngập lụt, xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu vào nhóm các trường hợp đặc biệt, được áp dụng chính sách đặc thù.
- Tại khoản 1, Điều 43, Trong thực tiễn, các trường hợp đặc biệt phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng không chỉ là các dự án đầu tư do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư, mà còn có các trường hợp sạt lở, sụt lún, cần khẩn trương di dời dân cư khỏi vùng nguy hiểm, kèm theo đó là giải pháp phải bố trí tái định cư cho người dân.
Kiến nghị: Bổ sung thêm trường hợp di dời cộng đồng dân cư do sạt lở, sụt lún, ngập lụt, xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu vào nhóm các trường hợp đặc biệt, được áp dụng chính sách đặc thù.
4. Về các trường hợp được và không được bồi thường về đất (Tại Điều 44, Điều 45, 46)
Từ thực tiễn các địa phương nói chung và ĐBSCL nói riêng các trường hợp sử dụng đất lâu đời nhưng hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh, nguồn gốc đất phức tạp và vướng mắc trong bồi thường chi phí đầu tư vào đất. Tôi xin có 2 kiến nghị:
Từ thực tiễn các địa phương nói chung và ĐBSCL nói riêng các trường hợp sử dụng đất lâu đời nhưng hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh, nguồn gốc đất phức tạp và vướng mắc trong bồi thường chi phí đầu tư vào đất. Tôi xin có 2 kiến nghị:
- 1 là Xem xét, bổ sung quy định khung xử lý thống nhất đối với đất sử dụng ổn định, lâu đời, không tranh chấp, có nguồn gốc rõ nhưng thiếu giấy tờ, hạn chế phụ thuộc quá nhiều vào cách hiểu của từng địa phương.
- 2 là Tại Khoản 2, Điều 46, cần quy định cụ thể danh mục chi phí điển hình như: san lấp, cải tạo, lên liếp, đào ao, bờ bao, thủy lợi nội đồng, tưới tiêu... và việc xác định khối lượng, định mức các danh mục để thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, cụm từ “Chi phí đầu tư vào đất còn lại” chưa giải quyết rõ trường hợp đất vườn, đất ao, hay đất nuôi thủy sản có giá trị đầu tư lớn. Do đó, cần có quy định riêng đối với đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất sản xuất kết hợp, phù hợp đặc thù ĐBSCL. Thực tiễn công tác giải phóng mặt bằng của các địa phương vừa qua đã chỉ ra rằng, khái niệm “chi phí đầu tư vào đất còn lại” nếu không quy định cụ thể sẽ khó áp dụng.
5. Về chính sách hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất (Tại Điều 47)
Điều 47 hiện chỉ quy định: “Người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản được hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất theo quy định của Chính phủ.”
Theo tôi, quy định này quá khái quát và chưa thể hiện đầy đủ chính sách mà Chính phủ đã lựa chọn trong hồ sơ dự án Luật.
Tờ trình chính sách của Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ một trong những giải pháp của chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là “giao chính quyền địa phương được quyết định chính sách hỗ trợ khác phù hợp đặc điểm của địa phương và đặc thù của dự án”. Báo cáo rà soát chính sách và Nghị quyết số 254/2025/QH15 đang quy định khá rõ: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định biện pháp, mức hỗ trợ khác phù hợp với tình hình thực tế; căn cứ quy định đó, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định biện pháp, mức hỗ trợ khác đối với từng dự án cụ thể.
Do đó, nếu Điều 47 chỉ nêu “theo quy định của Chính phủ” thì vô hình trung không luật hóa đầy đủ chính sách đã được phân cấp, đồng thời làm mất đi cơ chế linh hoạt mà Nghị quyết 254/2025/QH15 đang tạo ra cho địa phương.
“Chính sách hỗ trợ” đóng vai trò giải quyết phần tác động mà chính sách bồi thường (với vai trò bù đắp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản bị thiệt hại) chưa bao quát hết, đặc biệt là việc làm, thu nhập, chi phí chuyển đổi sinh kế và khả năng ổn định cuộc sống. Vì vậy, chính sách hỗ trợ khác chính là “van điều tiết” để chính quyền địa phương xử lý những trường hợp đặc thù mà chính sách chung chưa dự liệu hết.
Tờ trình chính sách của Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ một trong những giải pháp của chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là “giao chính quyền địa phương được quyết định chính sách hỗ trợ khác phù hợp đặc điểm của địa phương và đặc thù của dự án”. Báo cáo rà soát chính sách và Nghị quyết số 254/2025/QH15 đang quy định khá rõ: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định biện pháp, mức hỗ trợ khác phù hợp với tình hình thực tế; căn cứ quy định đó, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định biện pháp, mức hỗ trợ khác đối với từng dự án cụ thể.
Do đó, nếu Điều 47 chỉ nêu “theo quy định của Chính phủ” thì vô hình trung không luật hóa đầy đủ chính sách đã được phân cấp, đồng thời làm mất đi cơ chế linh hoạt mà Nghị quyết 254/2025/QH15 đang tạo ra cho địa phương.
“Chính sách hỗ trợ” đóng vai trò giải quyết phần tác động mà chính sách bồi thường (với vai trò bù đắp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản bị thiệt hại) chưa bao quát hết, đặc biệt là việc làm, thu nhập, chi phí chuyển đổi sinh kế và khả năng ổn định cuộc sống. Vì vậy, chính sách hỗ trợ khác chính là “van điều tiết” để chính quyền địa phương xử lý những trường hợp đặc thù mà chính sách chung chưa dự liệu hết.
Từ những cơ sở trên, tôi kiến nghị xem xét, điều chỉnh Điều 47 theo hướng:
“1. Người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được Nhà nước hỗ trợ để bảo đảm chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất, việc làm và thu nhập.
2. Chính phủ quy định các chính sách hỗ trợ cơ bản, đối tượng, nguyên tắc và điều kiện hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
3. UBND cấp tỉnh căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm của địa phương và tính chất của từng nhóm dự án quy định biện pháp, mức hỗ trợ khác nhằm bảo đảm chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất, việc làm và thu nhập cho người bị ảnh hưởng.
4. Căn cứ quy định của UBND cấp tỉnh, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định biện pháp, mức hỗ trợ khác đối với từng dự án cụ thể.”
Quy định theo hướng này vừa giữ được chính sách chung thống nhất của Trung ương, vừa tạo điều kiện cần thiết cho địa phương xử lý các nội dung phát sinh trong thực tiễn. Quan trọng hơn, đây là bước cụ thể hóa đúng tinh thần phân cấp gắn với trách nhiệm, thay vì để địa phương liên tục xin ý kiến từng trường hợp.
Đất đai là lĩnh vực tác động trực tiếp đến quyền tài sản, nơi ở, sinh kế và đời sống lâu dài của người dân. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu đơn giản hóa thủ tục, Luật cần bảo đảm các nguyên tắc, quyền, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát quan trọng được quy định ngay trong Luật, hạn chế tình trạng những vấn đề cốt lõi phải tiếp tục chờ văn bản hướng dẫn hoặc phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.